Bao nhiêu năm trôi qua, vật đã đổi và sao đã dời, nhưng giọng đọc thơ của thầy Mai hơn 40 năm trước tôi vẫn còn nhớ như in. Đó là một giọng chất chứa, như thổ lộ tâm trạng mình qua thơ người, và ẩn một mối đồng cảm sâu xa giữa những người nghệ sĩ “xếp bút nghiên lên đường kháng chiến” muốn chia sẻ với nhau những được và những mất, trong cái không khí kháng chiến chống Pháp nó khác hẳn với thời chúng tôi đi chiến trường sau này. Vâng, tôi có được chút gì sau này cũng chính nhờ những lớp học thời sơ tán ấy, nhờ được nghe một giọng đọc thơ lạ lùng ngày ấy.
Vào giờ Thìn, ngày Thìn, tháng Thìn (6/5/2010), Hoàng Cầm thi sĩ-người tuổi Nhâm Tuất (1922) đã trút hơi thở cuối cùng, thọ 89 tuổi. Ông ra đi, để lại phía sau mình một thế giới thơ riêng biệt: thế giới thơ Hoàng Cầm.
Trong bài “Nguyễn Ái Quốc và văn học Pháp ngữ”, tôi viết rằng Hồ Chí Minh không chỉ là một trong những nhà văn Pháp ngữ Việt Nam sớm nhất và thành công nhất, mà còn là cha đẻ của thể loại văn học viễn tưởng hiện đại Việt Nam. Trong bài này, tôi sẽ phân tích kỹ hơn về điều đó.
Nói về ảnh hưởng lớn lao của Xuân Diệu đối với đời thơ của mình, Trần Đăng Khoa viết: "Tôi đến với thơ hồn nhiên như em bé đến với trò chơi. Nhưng khi gặp Xuân Diệu thì tôi hiểu được rằng thơ ca không bao giờ là trò chơi cả. Nó là một công việc sáng tạo cực nhọc. Có thể nói may mắn cho đời tôi là tôi đã sớm gặp Xuân Diệu".
Hay nhất là đoạn cao trào, khi giọng Lập vút cao lên: “A, em đã đặt vòng/Từ nay tự do thoải mái…/”, cả bàn nhậu cười tới sặc bia. Ấy, trong bàn nhậu, Lập cứ những bài như thế mà phang, khiến ai cũng thích, ai cũng “bis” đòi anh phải hát lại mấy lần, kể cả một kỳ nữ thi nhân là Mỹ Dạ. Đúng là văn nghệ dân gian phải tục nó mới vui, mới ngấu, mới đã! Hồi đó, Lập còn trẻ, phong độ, hồn nhiên trong sáng và hài hước. Vài chục năm sau gặp lại, bây giờ Lập đã…già, dù tuổi chưa cao lắm, chân đi không bình thường vì bị tai nạn giao thông, nhưng cái hài hước qua những câu chuyện của Lập thì vẫn tươi nguyên.
Bây giờ Hòa Vang mới phán. Anh tu nửa chai rượu ôm mặt khóc hu hu, ông này sợ quá, run lẩy bẩy nói thưa thầy, có gì xin thầy cứ dạy. Hoà Vang chắp tay vái ông như vái người chết, nói con ơi số con sắp hết rồi. Ông này hỏi sao, Hoà Vang nói số con còn rất dài, đáng lý 93 tuổi mới chầu trời, nhưng vì phạm nhiều điều ác nên trời bắt về chầu Diêm Vương sớm, nếu không kịp thời chấn chỉnh, chỉ còn ba tuần nữa là con đi.
Tiểu thuyết "Nỗi buồn chiến tranh" của Bảo Ninh xuất bản lần đầu tiên năm 1990 tại NXB Hội Nhà văn với tên gọi "Thân phận của tình yêu". Tác phẩm sau đó nhanh chóng được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới, mà bản dịch Anh ngữ "The Sorrow of War" của Phan Thanh Hảo và "Frank Palmos" ra năm 1994 có lẽ là dịch bản đầu tiên. Nó được đón đọc và đánh giá cao ở nhiều nước, đặc biệt ở Mỹ, phía bên kia cuộc chiến. “Một cuốn tiểu thuyết không thể đặt xuống. Bất kỳ nhà chính trị hoặc nhà hoạch định chính sách nào của Mỹ cũng cần nên đọc cuốn sách này. Nó lẽ ra phải được giải Pulitzer, nhưng đã không được. Nó quá hấp dẫn để xứng được thế” - báo Anh The Guardian đã viết.
Có lần tôi hứa với chị là sẽ tổ chức một cuộc triển lãm tranh của chị ngay tại quê hương núi Ấn sông Trà của chị, nhưng do nhiều lý do, lời hứa ấy tới nay vẫn chưa thực hiện được. Nhưng tôi nghĩ, mình nhất định sẽ thực hiện được, vì người Quảng Ngãi vẫn còn yêu mến và tự hào về người nữ diễn viên điện ảnh mang tên “sông Trà” của mình lắm! Hy vọng, tới lúc mang tranh mình về cho bà con Quảng Ngãi xem, Trà Giang đã có cả một “dòng sông tranh” mùa nước lớn.
Qua những công trình giàu sáng tạo, Đỗ Lai Thuý đã khẳng định lối đi riêng của mình trong phê bình văn học. Cũng là những nhà phê bình thi pháp học, nhưng nếu như Đỗ Đức Hiểu là nhà phê bình thiên về khám phá “mĩ học của ngôn từ”, “sự ám ảnh của âm và nghĩa” thì Đỗ Lai Thúy tập trung phát hiện cái nhìn nghệ thuật của nhà văn trong tương quan với cái nhìn thế giới của thời đại chi phối sáng tác của anh ta.
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.